Năm 2009 là một năm đầy khó khăn và thách thức của thế giới. Cầu tiêu dùng giảm sút, hàng loạt doanh nghiệp phá sản, thu hẹp quy mô khiến số người mất việc tăng lên mỗi ngày. Theo Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), trong năm 2009, thế giới sẽ có 210 triệu chỗ làm bị giảm, đặc biệt trong lĩnh vực xây dựng, chế tạo, dịch vụ. C̣n t́nh trạng mất việc ở Việt Nam th́ sao? Những con số dự báo t́nh trạng này thế nào và căn cứ vào đâu? Vấn đề thất nghiệp có đang được quan tâm đúng mức? Các giải pháp kinh tế thời gian qua có nhằm giải quyết điều này? Tọa đàm tháng 2 “Giải pháp cho t́nh trạng thất nghiệp” do Doanh nhân Sài G̣n Cuối tuần tổ chức tại Press Café nhằm đưa ra lời giải cho những câu hỏi trên.
Khách mời tọa đàm thuộc nhiều lĩnh vực: Ông Trần Hiếu Liêm, Phó trưởng pḥng Lao động Tiền lương - Tiền công (Sở Lao động, Thương binh và Xă hội TP.HCM), bà Trịnh Thị Quỳnh Chi (Giám đốc Trung tâm Giới thiệu việc làm TP.HCM), ông Diệp Thành Kiệt, Phó chủ tịch Hội Dệt may thêu đan TP.HCM, ông Lê Nguyễn Huy Tâm, Giám đốc Phát triển thị trường Công ty chứng khoán Gia Quyền, cùng ba chuyên gia kinh tế của báo DNSGCT - Nguyễn Văn Sơn, Phan Chánh Dưỡng và Trần Sĩ Chương.
T́nh trạng mất việc đă đáng báo động?
Báo chí thời gian qua đưa ra những dự báo khá chênh lệch về t́nh trạng mất việc trong năm 2009. Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam cho rằng sẽ có khoảng 150.000 lao động mất việc th́ sau đó báo đưa tin con số mất việc phải lên đến 3 triệu (Cục Việc làm - Bộ LĐ-TB-XH ngày 25/2 dự báo đến cuối năm 2009 sẽ có thêm khoảng 400.000 người thất nghiệp). Trên thực tế, t́nh trạng mất việc diễn ra như thế nào? Các khách mời lần lượt đưa ra quan điểm.
Bà Quỳnh Chi kể những điều tai nghe mắt thấy: “Những ngày qua, lượng người t́m tới trung tâm của chúng tôi tăng lên đáng kể. Rất nhiều người tay cầm tờ báo giở sẵn ở trang tuyển dụng, mắt chăm chú t́m việc phù hợp trên bảng thông báo...”.
Ông Huy Tâm nói về ngành của ḿnh: “Ngành tài chính - chứng khoán thời gian qua bị ảnh hưởng nặng nề bởi suy thoái kinh tế. Một, hai năm trước, ngành tài chính - chứng khoán thu hút mạnh nguồn nhân lực từ các lĩnh vực khác, ai cũng nhận định đây là một ngành tiềm năng, rất có tương lai. Nay th́ ngược lại, các ngân hàng, đặc biệt là các công ty chứng khoán, quỹ đầu tư đă và đang gặp rất nhiều khó khăn để tồn tại và hoạt động. Giảm nhân sự với số lượng lớn là tất yếu, nhiều công ty đă cắt giảm hơn nửa số nhân viên. Doanh thu ngày càng giảm th́ dù đă cắt giảm tối đa nhân sự cũng chưa chắc tồn tại cho hết khủng hoảng”.
Mất việc trong điều kiện b́nh thường chỉ là hiện tượng nhất thời, người lao động có thể dễ dàng t́m một công việc khác. Nhưng quá nhiều người mất việc trong một thời gian ngắn sẽ tạo sức ép cho khả năng t́m việc của họ, hậu quả là một bộ phận lớn người mất việc gia nhập vào đội quân thất nghiệp.
Theo ông Hiếu Liêm, để nắm được t́nh trạng mất việc trên địa bàn TP.HCM, Sở LĐ-TB-XH tổ chức thống kê trên địa bàn quận, huyện và thông qua Ban quản lư KCX, KCN, gặp những doanh nghiệp ngừng hoạt động, thu hẹp quy mô sản xuất. Tính đến thời điểm 2/2/2009, thống kê được 135 doanh nghiệp ngừng sản xuất, giải thể hoặc có nguy cơ ngừng hoạt động, với 19.041 người mất việc và 2.269 người thiếu việc làm. Năm 2009, số người có nguy cơ mất việc, thiếu việc chưa đến 8.000 người.
Chuyện dự báo quá cao so với nguy cơ không phải là không có, nhưng dự báo con số thấp như của Sở LĐ-TB-XH TP.HCM hay Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam cũng không được nhiều người đồng t́nh. Bằng các cách tiếp cận khác nhau, các ông Trần Sĩ Chương, Diệp Thành Kiệt và Nguyễn Văn Sơn cùng đưa ra con số khá thống nhất.
Ông Chương dựa vào dự báo năm nay xuất khẩu Việt Nam sẽ giảm khoảng 20%, tương ứng với doanh số giảm khoảng 16 tỉ USD. Tính b́nh quân khoảng 10.000 USD doanh thu xuất khẩu tương đương một việc làm, chúng ta sẽ mất khoảng 1,6 triệu công ăn việc làm và số lao động thất nghiệp sẽ khoảng một triệu.
Ông Sơn đưa ra số liệu tỷ lệ lao động trong lĩnh vực công nghiệp chiếm khoảng 15% và dịch vụ 17% trong tổng số hơn 50 triệu người thuộc độ tuổi lao động, tức tổng cộng khoảng 16 triệu. Năm nay, theo ông Sơn, có ít nhất 10% lao động của hai lĩnh vực này (1,6 triệu) mất việc, khoảng 40% trong số đó t́m được việc mới, nghĩa là khoảng 1 triệu người sẽ bổ sung vào đội quân thất nghiệp.
Ông Kiệt có ư kiến đề nghị Chính phủ nên chủ tŕ một cuộc họp với các hội ngành nghề, các doanh nghiệp lớn để dự báo một con số thống nhất. Ông thẳng thắn nói rằng với ngành dệt may, Hội cũng không dám đưa ra dự báo con số mất việc, v́ không đủ cơ sở. Nếu chỉ nh́n vào doanh số xuất khẩu của ngành dệt may tháng 1 giảm 25% so với cùng kỳ năm 2008, da giày giảm khoảng 30%, th́ đă đủ để kết luận số đơn hàng giảm tương ứng chưa? Câu trả lời là “chưa”, v́ tháng 1/2008 không có kỳ nghỉ Tết, c̣n năm nay th́ có!
Trên thực tế, nếu đơn hàng sút giảm khoảng 20%, cũng không đồng nghĩa với việc sẽ có 20% lao động bị sa thải, mà sẽ ít hơn nhiều. Bởi trước đây công nhân phải làm quá giờ, tăng ca, th́ nay lại giăn ca… Nếu mất việc ở thành phố, người lao động lại quay về nông thôn. Ngành dệt may có các cơ sở ở nông thôn, trước đây không tuyển được lao động nhưng từ cuối năm ngoái đến nay lại tuyển được. Điều đó cho thấy không thể lấy thực trạng việc làm ở thành phố suy ra cho nông thôn, hay một địa phương suy cho cả nước. Theo ông, từ tỷ lệ mất việc trong ngành dệt may, con số một triệu người có khả năng thất nghiệp tính trên cả nước là hợp lư.
Đưa ra một con số dự báo có độ chính xác cao để làm ǵ? Ông Chương lư giải: “Không nước nào có thể đưa ra con số chính xác về t́nh trạng thất nghiệp, v́ vậy chúng ta chỉ nên t́m hiểu nguyên nhân cũng như hệ quả của vấn đề. Thực chất công ăn việc làm của người lao động là từ đâu và nếu điều chính yếu tạo ra việc làm bị thay đổi th́ số việc làm sẽ thay đổi thế nào? Nếu sự thay đổi ấy là tiêu cực, chúng ta có lường được không và có giải pháp ra sao? Việt Nam có doanh số xuất khẩu chiếm khoảng 70% GDP, nên có thể nói chúng ta đang làm việc cho thế giới, và v́ vậy, khi kinh tế thế giới suy thoái tác động làm giảm nhu cầu tiêu dùng, chúng ta sẽ bị ảnh hưởng. Thêm một triệu người không có việc làm chắc chắn là một vấn đề lớn, phải t́m cách để giải quyết”.
“Đó là chưa kể mất việc làm là mất thu nhập, không có tiền chi dùng khiến cầu tiêu dùng giảm, gây ảnh hưởng đến việc sản xuất của các ngành khác, lại gây ra t́nh trạng mất việc…, nghĩa là kéo theo cả một dây chuyền” - ông Huy Tâm thể hiện sự đồng t́nh bằng cách bổ sung.
Mức độ nghiêm trọng của vấn đề
Ông Phan Chánh Dưỡng bắt đầu với câu chuyện từ… nước Mỹ, khi lưu ư mọi người về một tuyên bố gần đây của Tổng thống Mỹ Obama, rằng “người Mỹ sử dụng hàng hóa Mỹ”, đă đi ngược lại hàng trăm năm “tinh thần Mỹ” (dù chỉ giới hạn trong đầu tư nhà nước vào lĩnh vực xây dựng).
Ông nói: “Chuyện ǵ quan trọng đến mức một nhà lănh đạo Mỹ phải “xé rào” chính cái rào do ḿnh xây nên? Đó là cuộc khủng hoảng ở Mỹ không đơn giản như chúng ta từng nghĩ, rằng Mỹ mạnh lắm, họ sẽ nhanh chóng vượt qua, đây chỉ là vấn đề chu kỳ… Lời tuyên bố của ông Obama, theo tôi, chứng tỏ t́nh h́nh rất trầm trọng, nên nước Mỹ đă không c̣n giữ được phương châm hội nhập toàn cầu theo tinh thần tự do thương mại của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa nữa, mà đă phải t́m cách tự cứu ḿnh. Điều này dễ gây nên phản ứng dây chuyền và sự trở lại của bảo hộ mậu dịch, đẩy lùi tiến tŕnh phát triển”. “Một sự thoái trào của kinh tế thị trường, dù nó đang vấp phải sự phản ứng của thế giới”, ông Sơn nói thêm.
Ông Dưỡng phân tích tiếp: “Một khi lĩnh vực xây dựng được bảo hộ th́ các ngành khác cũng sẽ đ̣i được như vậy. Thị trường xuất khẩu của các nước vào Mỹ càng bị thu hẹp. Việt Nam cũng bị ảnh hưởng, số công ăn việc làm sẽ giảm theo tính dây chuyền. Tôi đồng ư với dự báo sẽ có thêm một triệu người gia nhập đội quân thất nghiệp. Nếu không có giải pháp đúng, điều đó chắc chắn gây ảnh hưởng lớn đến an sinh xă hội”.
Như muốn giảm nhẹ đi không khí căng thẳng, ông Chương đưa ra câu chuyện về tính cộng đồng, để cho thấy Việt Nam vẫn c̣n may mắn. Ông nói: “Ở nước ta, văn hóa cộng đồng, tính tương thân tương ái rất cao, nên tác động của chuyện mất việc không đến nỗi như ở các nước Âu - Mỹ. Ở xứ người, mất việc là mất tất cả, c̣n ở Việt Nam, anh có thể ghé nhà d́ Bảy, chú Ba ở lại năm ba bữa, nửa tháng, thậm chí vài tháng, sau đó nếu vẫn không t́m được việc th́ về quê, chẳng đến nỗi chết. Mặt khác, nếu như các nước tiên tiến có trên 80% người làm công ăn lương, th́ ở nước ta có đến 80% là lao động tự do - họ không bị mất thu nhập 100% mà chỉ giảm thôi, v́ vậy tác động của chuyện mất việc lên toàn xă hội được giảm nhẹ.
Tuy vậy, điều đáng nói là hiện tượng mất việc xảy ra quá nhanh, nên gây ra một cú sốc. Nếu nó diễn ra từ từ th́ độ tương thân tương ái của cộng đồng sẽ hấp thu hết, tỷ lệ thất nghiệp có lên đến 20% cũng không sao. Tiền vào một lúc nhiều quá mà ngưng lại cũng nhanh quá, khiến hệ thống khó điều chỉnh. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) từ dưới 10 tỉ USD bỗng vọt lên 20 tỉ rồi trên 60 tỉ USD chỉ trong mấy năm, nhưng sẽ giảm mạnh trong năm nay. Cũng giống như khi anh hứa với thằng cháu ở dưới quê “lên thành phố với chú, chú xin việc cho”, để khi nó bán nhà dọn lên được vài tháng th́ mất việc, bị sốc là đương nhiên. Nói vậy để thấy suy thoái kinh tế đang gây áp lực lên xă hội, con số thất nghiệp chỉ thể hiện một phần của điều này. Khó ai chuẩn bị trước được, v́ nó đến quá nhanh và vẫn đang trong giai đoạn rơi tự do chứ chưa đụng đáy”.
Hệ quả của suy thoái kinh tế đă hiển hiện ở mọi lĩnh vực, trong đó dệt may là một trong những ngành phải gánh chịu nặng nhất. Hàng vạn công nhân bị cho thôi việc hoặc tự nghỉ việc. Nhiều nhà máy đóng cửa, chủ nợ lương công nhân, bỏ trốn… là những thông tin thường thấy trên báo. Ông Kiệt báo động một t́nh trạng nhiều doanh nghiệp cố sống lây lất chứ không đóng cửa để khỏi phải thanh toán tiền trợ cấp mất việc (mỗi năm làm việc phải trả một tháng lương) cho công nhân. Họ trả 70% lương chờ việc theo quy định, nhưng trả chậm. Mà công nhân đâu chờ lương lâu được, nên nản rồi xin nghỉ và khi ấy th́ chỉ được trợ cấp nửa tháng lương cho mỗi năm làm việc theo chế độ thôi việc b́nh thường. Tệ hơn, do thiếu hiểu biết, nhiều người c̣n nghỉ ngang không xin phép, thế là mất luôn tiền trợ cấp.
Nên chăng Nhà nước xem xét hỗ trợ khoản 50% trợ cấp mất việc cho công nhân trong trường hợp mất việc, khi ấy doanh nghiệp nào buộc phải ngưng hoạt động sẽ tiến hành thực hiện đầy đủ nghĩa vụ với sợ hỗ trợ, chứ không t́m cách “lách” nữa (Ngày 25/2 Cục Việc làm đă công bố Quyết định 30/2009/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, theo đó trong năm 2009, doanh nghiệp nào gặp khó khăn do suy giảm kinh tế chưa có khả năng thanh toán tiền lương, đóng bảo hiểm xă hội và tiền trợ cấp mất việc làm th́ được vay những khoản này để thanh toán, thời hạn vay tối đa 12 tháng, lăi suất 0% - PV).
Theo ông Kiệt, chính sách kích cầu hiện nay dường như chỉ chú trọng cho sản xuất mà quên kích cầu tiêu dùng. Ông nói: “Không cường điệu hóa chuyện người lao động sẽ thất nghiệp, nhưng chúng tôi vẫn muốn gói kích cầu này nên hướng nhiều hơn vào người tiêu dùng, đặc biệt là người lao động. Có người mua hàng th́ người sản xuất mới tiếp tục sản xuất hàng hóa. C̣n bây giờ, không có đơn hàng th́ vay tiền làm ǵ?”.
Giải pháp: rót tiền đúng nơi, đúng lúc
Phải nhận định đúng thực trạng, mức độ nghiêm trọng của vấn đề, chúng ta mới có thể đưa ra những giải pháp hợp lư. Vẫn thái độ dứt khoát quen thuộc, ông Dưỡng mở đầu: “Từ những phân tích đó, chúng ta đă thấy được vấn đề của Việt Nam. Nói chuyện thống kê số người thất nghiệp th́ tương đối vĩ mô, c̣n t́nh trạng mất việc lại là thực tế rất gần, mà con số không hề nhỏ, ảnh hưởng ngay đến kinh tế - xă hội. Nguồn tiền kích cầu đă được dùng để trợ cấp cho người mất việc, giúp họ ổn định cuộc sống chưa? Hăy cho họ được hưởng 50% lương trong thời gian t́m việc, bất kể đă đóng bảo hiểm thất nghiệp hay chưa. Điều đó thiết thực hơn là tài trợ cho những chỗ khác như hiện nay. Thời gian họ mất việc nên dùng để đào tạo, cho họ có tay nghề cao hơn khi có việc làm trở lại. Tiền đào tạo này cũng lấy từ ngân sách”.
Mọi người đều đồng t́nh với ông. Bà Quỳnh Chi tiếp ư:
Tôi mới tham dự một buổi tập huấn về bảo hiểm thất nghiệp và giải pháp đưa ra cũng là trợ cấp và đào tạo lại cho người thất nghiệp. Ngoài ra, tôi được biết Cục Việc làm cũng sẽ đề xuất một số giải pháp tŕnh lên Chính phủ, trong đó có việc lập một quỹ hỗ trợ người mất việc. Tất cả đă chứng tỏ sự cấp bách của vấn đề. C̣n thực tế, như tôi đă nói lúc đầu, là trung tâm của chúng tôi thời gian qua thật sự bận rộn: Năm 2008 chỉ có hơn 8.000 người mất việc th́ mới tháng 2/2009 con số đă là 19.000. Về thông tin và dự báo t́nh trạng mất việc, Bộ LĐ-TB-XH đă thành lập một trung tâm dự báo quốc gia, Sở LĐ-TB-XH TP.HCM quư I này cũng sẽ có. Nhưng có một nghịch lư khiến chúng tôi băn khoăn là không ít doanh nghiệp cần lao động lại không tuyển được, dẫn đến người mất việc không t́m được việc mới, c̣n nơi cần người vẫn thiếu người. Có những đơn hàng 100 lao động mà vẫn không t́m đủ người, chứng tỏ việc kết nối cung - cầu đang có vấn đề.
Vốn cẩn trọng, ông Nguyễn Văn Sơn đă chuẩn bị sẵn trên giấy một số giải pháp và bắt đầu nói, khúc chiết:
Do chưa có những số liệu điều tra sâu về t́nh trạng sử dụng lao động, nên chúng ta chưa thể dự báo ngành nào có nguy cơ cao nhất, để đưa ra giải pháp cụ thể. V́ chỉ có con số chung, nên tôi cũng đưa ra giải pháp chung, đó là chú trọng đến nông thôn. Công nhân mất việc quay về quê, hăy đón họ và cho họ cơ hội việc làm ở quê nhà. Kỹ thuật, điều kiện canh tác ở nông thôn c̣n kém, nên chưa tận dụng được hết nguồn lực. Chẳng hạn từ hai vụ lúa, chỉ cần thêm một vụ màu là đă tăng thêm được 0,75 công lao động trên mỗi hecta.
Rồi đầu tư vào thủy lợi, làm các đại công tŕnh sẽ thu hút được lao động, thế giới đều áp dụng giải pháp này. Sau đó, là đầu tư cho khâu tồn trữ và chế biến phục vụ xuất khẩu, đưa công nghiệp về nông thôn để thu hút lao động dôi dư từ thành thị. Đào tạo thêm nghề thủ công, t́m hướng ra cho làng nghề. Phải có cơ chế thực sự ưu đăi cho những ngành thâm dụng lao động, không như các giải pháp kích cầu hiện nay. Cách đây mấy tháng, chúng tôi đă đề nghị trong gói kích cầu nên có phần cho nông thôn, đến giờ vẫn chưa thấy. Nếu không có biện pháp giăn lao động, cứ co cụm trong phạm vi đô thị, th́ chỗ anh Liêm với chị Chi đây c̣n phải giải quyết t́nh trạng mất việc dài dài.
Ông Dưỡng th́ đề nghị: “Ngành LĐ-TB-XH phải đưa ra những con số cụ thể, ngành nào mất việc bao nhiêu, đồng thời trong thời gian đó tạo ra bao nhiêu việc làm mới, trên toàn quốc. Có con số cụ thể th́ mới có nhiều người cùng suy nghĩ giải pháp. Theo tôi, người lao động trong ngành xây dựng và sản xuất cho xuất khẩu là rất quan trọng. Nhà nước nên có chính sách tái đào tạo và đào tạo nâng cao cho lao động phục vụ xuất khẩu ngay tại xí nghiệp, trong thời gian họ thiếu việc. C̣n lao động ngành xây dựng mất việc ở thành thị nên đưa về nông thôn, xây cầu làm đường, giải quyết vấn đề tồn đọng xi măng sắt thép, kích cầu cho sản phẩm, lại tăng cơ sở vật chất cho nông thôn và tận dụng những thiết bị trong xă hội đang “nằm chờ” do kinh tế suy thoái. Tiền kích cầu nên đổ vào đấy, đúng đối tượng và thật cụ thể. Nếu không làm ngay, th́ càng bàn bạc lại càng tính không ra, bởi yếu tố thời gian rất quan trọng. Như khi nhà bị cháy, cứu ngay từ đầu th́ có thể dập tắt chỉ bằng một xe nước, nhưng nếu để lâu th́ đám cháy càng lớn. Đợi bàn xong kế hoạch cứu hỏa th́ cả trăm xe nước chưa chắc đă dập được”.
Sau một thời gian lắng nghe, ông Hiếu Liêm vẫn cho rằng Sở LĐ-TB-XH cập nhật thống kê và dự báo t́nh h́nh lao động mất việc, thiếu việc làm là có cơ sở thực tế. Tuy nhiên, đây chỉ là thống kê bước đầu, trong thời gian tới t́nh h́nh kinh tế khó khăn có thể làm trầm trọng hơn vấn đề. Ông cho biết thêm: “Những tháng gần đây, các cấp lănh đạo của thành phố cũng như Trung ương đă có những chỉ đạo quyết liệt để giải quyết t́nh trạng thất nghiệp. Về phía Sở LĐ-TB-XH, chúng tôi sẽ cố gắng hết sức tiếp tục cập nhật và tham mưu cho lănh đạo Sở một số giải pháp thúc đẩy việc làm cho lao động mất việc, trong đó có một số giải pháp hay từ buổi tọa đàm này”.
Thông tin của ông Liêm rằng Nhà nước “chỉ đạo quyết liệt” chứng tỏ các nhà hoạch định chính sách đă có thông tin và đánh giá đúng mức độ quan trọng của vấn đề. Vui mừng với điều này, mọi người hào hứng đề ra thêm một số giải pháp cũng như nh́n thấy những tín hiệu lạc quan của nền kinh tế.
Ông Chương cho rằng có một điều may mắn khi nước ta chưa phát triển, đó là thị trường nội địa c̣n rất lớn, hệ thống phân phối chưa tới khắp hang cùng ngơ hẻm, nên cơ hội cho các doanh nghiệp c̣n nhiều.
Ông Sơn th́ cho biết ḿnh mới có chuyến đi khắp các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long và được biết nhiều tỉnh năm nay vẫn có thể giữ được mức tăng trưởng, do không phụ thuộc nguồn vốn FDI, đồng thời những mặt hàng xuất khẩu như gạo, thủy sản đều tốt. Thị trường trong nước c̣n lớn, vấn đề là làm sao tăng thu nhập của khu vực nông thôn để tăng sức mua.
Ông Kiệt có một gợi ư nhỏ nhằm “kết nối giữa cung - cầu lao động”, giải quyết t́nh trạng “thiếu vẫn thiếu, thừa vẫn thừa” hiện nay. Đó là trên những tờ báo lớn nên dành hẳn một trang cho các doanh nghiệp đăng thông tin tuyển dụng miễn phí, Nhà nước sẽ trả số tiền quảng cáo này cho báo. Doanh nghiệp khi ấy sẽ đăng tin tuyển dụng công nhân thật cụ thể, để người lao động biết rơ mà đến xin việc.
Bà Quỳnh Chi th́ mong có thêm kinh phí, để không c̣n t́nh trạng “không kết nối được v́ không đủ lực lượng”. Bà cho biết trong khi B́nh Dương đă làm được điều này, tất cả tập trung vào một đầu mối, có cả xe chở người t́m việc đến tận nơi xin việc, th́ TP.HCM không thể, do không có nguồn ngân sách hỗ trợ.
Chỉ cần có thêm kinh phí, và kinh phí cần được rót đúng nơi, đúng chỗ, đúng lúc - đó là mong muốn của những khách mời tham dự tọa đàm. Quyết định 30/2009 QĐ-TTg của Chính phủ, theo đó người lao động mất việc do chủ doanh nghiệp bỏ trốn được trả khoản lương c̣n bị nợ (lấy tiền từ ngân sách địa phương), người mất việc trong năm 2009 được vay vốn từ Quỹ Quốc gia về việc làm để học nghề… cho thấy sự tích cực của Chính phủ trong việc “dập lửa t́nh trạng mất việc”. Rất mong sẽ c̣n nhiều sự quan tâm như thế dành cho người mất việc, giúp thật nhiều người t́m được việc làm mới, để con số thất nghiệp thực tế sẽ ở mức thấp nhất có thể.
Theo LY LAM - Doanh nhân Sài G̣n Cuối tuần |